VÀI LỜI BÀN VỀ

VÀI LỜI BÀN VỀ
SỰ CHẾT ĐỨNG CỦA TỪ HẢI
Mấy ngày mưa phùn cầm chơn ba anh em, một bữa chúa nhựt, gần lò sưởi. Anh Mỹ ngày thường vẫn lăm le chọc ghẹo nàng Thơ, gợi chuyện bằng mấy câu Kiều:
“Áo xiêm buộc trói lấy nhau”, cao hứng lần lượt anh ngâm:
“Khí thiên khi đã về thần
Nhơn nhơn còn đứng chôn chơn giữa vòng
Trơ như đá vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời
………………..
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ
… Giòng thu như chảy mạch sầu,
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên
Lạ thay oan khí tương triền,
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra”.
Anh Luật, rất hiếu kỳ chận anh Mỹ: “Có thể nào Từ Hải lúc chết còn đứng vững cho đến bao nhiêu người khó bề lay chuyển. Rồi xác chết vẫn cảm động, khổ tâm mà chỉ mạch-sầu của người yêu mới làm cho xác kia ngã đặng… Tôi vẫn nghe người ta nói “chết đứng” theo ý tôi – chỉ mô tả sự vô cùng kinh ngạc khi mục kích việc lạ lùng quá sức tưởng tượng nên sững sờ, tay chơn bủn rủn, đứng im lìm như một pho tượng. Cũng một hai khi, có người đem câu chuyện trời trồng thuật lại cho con, em. Câu chuyện kẻ bất hiếu, vì con gà nòi, nhẫn tâm giết mẹ, bị trời trồng như cây nọc cặm giữa sân. Câu chuyện luân lý! Thật ra chưa ai chứng kiến vụ hình phạt gớm ghê ấy, nên tôi vẫn tin rằng: vừng xanh thăm thẳm kia không bao giờ mó tay đến việc trần thế dầu trên mảnh đất này có người coi mạng gá hơn mạng mẹ.
– Cần chi phải luận dông dài. Theo tôi – anh Mỹ nói – đó là sự thực của nhà thi sỹ. Hai anh vẫn thấy thú vật của Lã-Phụng-Tiên sinh-hoạt hơn loài thú của các nhà tự-nhiên-học; nhà thi-sỹ nghe tiếng của gió nói chuyện cùng hoa, đem thơ lên bán chợ trời. Thi-sỹ có quyền sửa đổi, tô điểm sự thật cho mỹ-miều, lộng-lẫy; và tin rằng nhân-loại bao giờ cũng khoa-học. Vì câu ca của thi-nhân là tiếng đẳng tâm của nhơn-loại.
– Anh Học, chúng tôi muốn biết ý-kiến nhà bác-học.
– Cần gì phải hỏi tôi. Mấy anh thường đọc trong sách nhiều chuyện sống thừa những kẻ đã chết vẫn còn máy động; nghĩa là khi tim đã ngừng, mạch đã mất, hay là rõ rệt hơn, đầu đã lìa cổ mà chơn tay còn cử động.
– Anh nhắc tôi mới nhớ câu chuyện trong quyển sách của A.Dumas tiên-sanh. Bữa mồng một tháng chín năm 1831, ở tại Fontenay-aux-Roses, ông xã J.Pierre Ledru thuật lại cho tiên-sinh và mười người khách câu chuyện cô Charlotte Corday lên đoạn đầu đài, đền tội giết Marat, nhà ngôn luận có tiếng trong hồi Đại-cách-mạng (1789). Khi đầu cô đã rơi, thì theo lời ông xã, người phụ sự cho tên tả đao nắm lấy tóc đưa đầu lên cho công chúng xem lần cuối, rồi tát vào mặt cô một cái thật mạnh. Khi đó, mặt cô Charlotte lại ửng đỏ lên, đôi mắt mở trừng thật lớn như người tức giận, vì một sự trừng phạt bất công.
Rồi một hôm kia ông xã tọc mạch tìm đến nhà tên Legros, người phụ sự cho tên đao-phủ-thủ.
Đáp lại câu hỏi của ông xã, Legros phân: “Tôi nhập đảng của Marat. Đứt đầu cô Charlotte đền tội cùng pháp luật, tôi tát cô để báo thù cho đảng.
– Nhưng anh phải kính trọng người chết.
– Nói vậy ông tưởng mấy kẻ đứt đầu chết liền hay sao? Chắc không bao giờ ông ngó vào giỏ đựng thủ cấp vừa mới lìa cổ. “Chúng nó” trợn mắt, nghiến răng ít lắm là năm sáu phút mới chịu im. Cho nên ba tháng phải thay giỏ, “chúng nó” cắn lủng hết. Đầu của bọn quý-tộc không bao giờ chịu chết một cách êm thấm như chúng mình đâu. Thế nào một ngày kia, một cái đầu quý phái, khi lìa khỏi cổ sẽ rống lên rằng: “Đức vua! Đức vua! Vạn vạn tuế!”. Để rồi ông coi.
Câu chuyện hơi khó tin. Có lẽ ông xã Ledru muốn cho các bạn rùng mình.
– Xin anh đừng quên tiên-sinh A.Dumas là một văn-sỹ rất giàu tưởng-tượng.
– Chuyện anh vừa mới kể đem lại trong trí nhớ tôi một án mạng xảy ra hồi thế-kỷ thứ 16 mà hung thủ là một vị bác-sỹ. Lúc bấy giờ nhiều nhà sinh-lý-học để tâm đến vấn-đề sống thừa; nhứt là bác-sỹ Velpeau, giáo sư khoa mổ xẻ ở Đại học đường Paris. Sẵn dịp hiếm có bác-sỹ muốn mượn đầu đồng nghiệp bị kết án tử hình để thí nhgiệm. Trong khám đường La Roquette, hai bác-sỹ đương đàmđạo:
– Tôi biết công việc tôi sẽ thi hành là dị kỳ, nhưng ông đã từng chạm trán với Tử-thần, sự chết đối với ông không còn vẻ huyền bí…, nên phi ông, phi nhà y-sỹ, không ai có can đảm và nghị-lực để chịu nổi sự thí nghiệm này… Có mặt tôi tại pháp trường; đầu ông chúng nó sẽ đưa cho tôi. Chừng đó, kề miệng sát tai ông, tôi sẽ la lên: “Vì những lời hứa lúc sanh tiền, có thế nào ông chớp mắt bên mặt ba lần, mắt trái vẫn mở, hay không? Nếu ông làm việc y như thế, thì khoa-học sẽ đội ơn ông vô ngằn, vì nhờ ông, đã đi một bước thật dài; nhờ ông, chúng tôi sẽ biết chắc rằng: đầu khi lìa xác vẫn còn nghe, hiểu và nhớ. Lại còn đủ nghị-lực để đè nén bao nhiêu sự đau, thương, tiếc, sợ và trăm ngàn cảm giác rùng rợn khác… Chỉ một sự thí nghiệm cỏn con mà thay đổi bao nhiêu điều tín ngưỡng hiện thời.
– Tôi cũng muốn giúp ngài, nhưng tôi e sự hình phạt tối ư khốn nạn mà tôi sẽ chịu nó làm cho tôi trở nên một người hèn; mà sự thí nghiệm ấy, theo tôi, nó quá lực lượng của một người quá tầm thường như tôi. Nhưng… không sao, xin mời ngài trở lại đây bữa sáng trước giờ xử tử. Nay đến đó, tôi sẽ suy xét coi có đủ nghị lực để giúp ngài thi hành sự thí nghiệm, mà tôi cho là ngông cuồng, táo bạo và, tôi xin lỗi ông, vô-hiệu-quả”. Đức hoàng đế Napoleon III chuẩn y án tử hình.
Ngày chém. Lưỡi gươm rơi xuống kêu vang. Rồi đầu đầy máu ở trên tay nhà thí nhgiệm đại tài. Máu đẫm đỏ mấy ngón tay, ướt cả áo. Mặt ấy lợt lạt xanh xao, mắt mở lớn…, chơn mày nhiếu lại. Bác sỹ cúi xuống, kề miệng vào tai la lớn… Một giây, hai giây… Dầu can đảm bực nào, bác sỹ cũng phải rùng mình hồi hộp khi mí mắt bên phải của thủ cấp lần lần khép lại, mắt trái vẫn mở.
– “Còn nữa, còn hai lần nữa, ráng, cố ráng lên…”
Lông nheo cựa động, nhưng mắt ấy vẫn nhắm.
Máu đặc lại, hết chảy. Môi bầm tím hai mắt nhắm liền.
– Tôi có đọc chuyện ấy, và mấy lời bình phẩm khôi hài lý-thú của một nhà phê bình có tiếng. Câu chuyện đó của nhà Bá tước Villiers de l’Isle Adam thuật lại trên mặt báo. Nhà phê bình, sau khi tán tụng tài văn-sỹ rồi thêm: nếu ta bỏ bớt một nét của tên ký dưới bài thì chuyện ấy thành chuyện thật. (bỏ một nét tên ấy sẽ thành câu: Le conte de Villiers de l’Isle Adam nghĩa là chuyện hoang đường của ông Villiers…)
– Anh Học thật là người phá hoại. Anh nhắc cho hai ta thuật lại những chuyện đã đọc qua, rồi anh đem lời phê-bình trào phúng để tiêu diệt. Anh còn chờ gì nữa? Đem lại những chứng cớ xác đáng cho chúng tôi biết coi xác của tướng giặc họ Từ có đứng được theo lời cụ Tiên-điền chăng?
Một phút trầm ngâm như để ôn lại những điều biết: “Những chuyện sau đây là cuộc thí nhgiệm hoặc những “ca” mà mắt của y-sĩ đã tường tận tra xét. Trong những trường hợp nầy, cần phải có người giữ được bình tĩnh, mắt luôn luôn sáng sủa trước cái rùng-rợn, và nhứt là rất chân thật trong việc trước-tác, bỏ những ý “lòe” đời, chỉ mong giúp ích cho kho Biết của nhân loại.
“Ngày 30 tháng tư năm 1884, tên Michel Campi bị tử hình.một giờ sau khi chém, nhà thí nghiệm Laborde bơm máu vô thủ cấp nó; trán và gò má lần lần ửng đỏ. Mừng. Mí mắt cử động, nhưng mắt vẫn nhắm rồi im lìm… Một vật vô tri. Mà từ đó đến sau, bao giờ cũng thí nghiệm trễ. Không thể lấy đầu tội nhân tức khắc sau phút chém, sau khi máu vô đầu lần lần sống lại, nhưng một vài phút sau sự sống đó tiêu tan. Phải chờ một giờ sau khi đầu lìa cổ mới được phép thí nghiệm, luật buộc như thế. Đó là sự trở ngại nhứt. Biết bao lần luật cản trở công việc của bác sỹ trứ danh: nếu để cho bác sỹ Metchnikoff tự do có lẽ sự đổi máu đã đem ta đến suối Trường sanh…
Bao nhiêu điều trở ngại làm cho câu nói của Brown Séquard còn nguyên giá trị: nếu ta có thể thí nghiệm ngay tức khắc sau khi đầu rơi, thì có lẽ xảy ra lắm chuyện dị thường.
Sao không dùng thú? Mấy anh sẽ hỏi. Bác sỹ Doye (B) dùng đầu chó vừa mới cắt, khi cho máu vô chỉ thấy nhăn nhó đôi phút, thế thôi… Vậy ta chỉ chờ những điều quan sát của viên bác sỹ nơi đoạn đầu đái hay là trận giặc giữa lằn tên mũi đạn… là chỗ thí nghiệm lớn lao, hết sức tàn bạo.
Trước hết tôi xin thuật một chuyện mà người bị hành hình là người Nam-việt, xử tại Saigon năm 1884. Bác sỹ Petitgaud de Gray trong tờ báo Khoa-học (Revue scientifique) cho ta biết một cách tỉ mỉ cuộc xử tử bằng dao; mà khi đầu rơi xuống lại nhằm đống cát. Nhờ cát bít mạch nên cầm máu. Bác sỹ mục-kích một chuyện lạ lùng: cặp mắt của kẻ chết chăm bẳm ngó; dầu đi chỗ nào đôi mắt ấy cũng lườm lườm ngó theo. Mặt mày cái đầu đã lìa xác kia để lộ ra một vẻ khó chịu vô ngần, nói cho đúng hơn đó là sự vô cùng kinh ngạc của người gần chết ngộp. Rồi miệng hả ra thật lớn như muốn ngáp, như muốn hít một hơi thật dài vào bộ phổi. Cũng vì mở miệng quá mạnh, đầu hết đứng vững, nghiêng một bên; cát dính mạch máu trốc ra, máu chảy lại. sự sống thừa kéo dài gần hai chục giây.
Vậy khi đầu đã lìa xác, mà còn hả miệng, trợn mắt, tỏ ra sự sợ hãi thì sự đứng của Từ sau lúc chết không phải là một chuyện hoang đàng.
Còn nhiều thí dụ khác, C.Flammarion thuật lại chuyện kẻ giết em trong bữa ăn. Một tay bụm miệng, một tay chặt cổ. Đầu đã đứt mà miệng còn ngậm và nhai nát một ngón tay kẻ sát nhơn.
Hai bác sỹ Brinton và Rossbach mục kích nhiều “ca” rõ rệt. Lúc rượt giặc, hãm thành, lính bị bắn mất đầu mà xác còn ôm súng chạy năm bảy bước. Một tên lê-dương đang ngồi uống nước, miểng trái bom tạt ngang, đầu rơi, mà thây vẫn còn ngồi vững vàng, tay còn bưng “ca” đưa lên như mình vẫn còn đủ đầu và miệng.
Bao nhiêu bằng cớ để đưa hai anh đến sự chuyển động của gân cốt sau khi chết. Sự ấy là “spasme cadavérique”; sự lưu-tồn bộ tịch trong lúc sống qua lúc chết nhứt là bất-đắc kỳ-tử.
Khác hơn “rigidité adavérique”: Chất đản-bạch (albumine) của bắp thịt đông lại làm cho xác sau khi chết cứng như khúc gỗ.
Một đàng là di-tích của sự sống, một đàng là biểu hiệu của sự chết. Khi máy đã ngưng, xe là một vật vô tri, vì trớn còn rướn tới được vài thước; thân thể của con người, vì một mũi tên tẩm thuốc, hay một viên đạn gieo sự chết bất ngờ, thì trong vài giây sẽ cử động như hồi sanh tiền. bó đuốc lúc tắt để lại lằn khói tượng hình ngọn đuốc, lúc chết, thân thể giữ lại một vài di-tích của sự sống. Hành động vẫn tiếp theo từ phút sống qua hồi chết. Vậy câu:
“Khí thiên khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chơn giữa vòng.
Bày trước mắt ta một cảnh tuợng có thể xảy ra…
Như tìm được một điều quan trọng, anh Luật cướp lời:
– Còn hai nguyên do giúp ta hiểu sự chết đứng của Từ Hải. Làng võ của ta thường khoe tài những bực tót chúng, có thể đứng vững như trồng, dầu mấy chục người tay trơn khó làm cho lui một bước. nhờ khoa đứng tấn – tấn trung bình cùng là đinh tấn – hai chơn dang ra, mình rùn xuống, giúp cho người có võ một thế đứng vững vàng. Mà khi tập võ thì giờ nào, phút nào, ngày nào cũng đứng tấn; nên thành một thói quen. Khi Từ Hải thấy phục binh đổ ra, tất nhiên xuống bộ tấn, đến lúc chết vẫn còn giữ bộ ấy, nên xác đứng vững vàng hơn… thây của người không biết võ.
– Chứng cớ đó vững… như khoa tấn, xin anh cho nghe nguyên do thứ hai.
– Từ Hải có thể chết vì gươm đao, hay vì phẫn uất. Nhưng chắc vì tên bởi một cớ dễ hiểu. Danh tướng cướp họ Từ giết người như bỡn, lại thân hộ-pháp kia, vai năm thước rộng, thân mười thước cao, bọn phục binh của Hồ-Tôn-Hiến đã khiếp vía, chắc không một gã nào bén mảng đến gần. Kế lưỡng toàn: ở xa dùng tên tẩm thuốc bắn lại. thuốc ấy có chất curare làm cho gân cốt tê cứng…
– Không được vững. Lấy gì làm chứng rằng thuở đó dân Trung-huê biết dùng chất curare. Nhưng bao nhiêu bằng cớ đã xem qua giúp ta biết rằng chuyện tả trong hai câu Kiều không phải là hoang đường.
Xét đến hai câu:
Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.
Theo tôi, Từ Hải với tấm thân to lớn, mà khi chết lại đứng một cách oai phuông, hùng tráng, thì tay nào cũng táng đởm, có ai dám lại gần mà lay với chuyển. Đứng xa trông lại cũng đủ kinh hồn, tưởng tượng dầu ai sức khỏe bực nào cũng không thể rung chuyển… Thiệt ra xác ấy như cây trốc gốc, chỉ đụng đến là mất sự thăng bằng (équilibre), cho nên: Kiều vừa phục xuống, Từ liền ngã ra. Tuy đứng một cách coi thật là vững vàng, nhưng một xúc động nhỏ cũng đủ khuynh đảo…
– Anh quên câu: Lạ thay oan khí tương triền.
– Xin phép anh để riêng câu đó ra cho tiện sự luận bàn. Mà tôi cũng đã đi đến. Theo những sự xem xét của bác sỹ Osty thì trong vài cảnh ngộ, người sống có thể đọc, biết, hiểu những ý kiến mới nở ra trong óc người vừa chết, nếu đó là người thân yêu, triều mến. Một người thiếu phụ đương yên vui, vùng giựt mình rồi tin chắc rằng người chồng ở phương xa đã từ trần. Vài hôm sau giây thép đem tin dữ dội kia đến. Một thí dụ khác: tàu chìm tại Vịnh Hạ-Long (Bắc-kỳ), kẻ sống thừa rải rác trên mấy hòn côn đảo. Một người mẹ xa con đã mấy giờ, đương bình tĩnh, lại khóc tấm tức: chắc chắn là con vừa mới chết. Không làm sao đánh đổ sự tin quái gở kia. Ngày mai khi thuyền đến vớt, mới hay đúng giờ, phút trong khi mẹ khóc, đứa trẻ bạc phận đã trút linh hồn nơi một cù lao gần đó.
Hai anh còn nhớ sự chết của K… sinh viên trường thuốc, anh bạn vui vẻ, một sinh viên nhiều tương lai; con một vị phú hộ ở Hà-thành, K… là người lực lưỡng; trước mặt anh không khi nào tỏ sự buồn cùng thần chết. Một bức thơ ở Paris gởi về sau ba tháng du học: sức khỏe và sự học đều phát đạt. Nội nhà đều mừng chỉ bà cụ sụt sùi khóc, vì bà rõ ràng thấy K… chết, cận giường hai bạn đang quỳ. Chẳng ai tin cho đến khi được điện-tín. Bà cụ còn cho biết: có mười người đưa đám tang; đường vô nghiã điạ hai bên trồng cây cao, nơi một cánh đồng hiu quạnh. Một bức thơ của B… gởi về chứng nhận bao nhiêu sự trông thấy ấy đều thật cả.
Trong quyển: L‘Inconnu et les problèmes psychiques, C. Flammarion tiên-sinh đem cả thảy một trăm tám chục chuyện có bằng cớ xác đáng chứng nhận rằng người đương cơn hấp hối cho người yêu biết tin hung dữ, nhiều khi cách nhau thật xa. Một vị bác sỹ, tách cà-phê trong tay đương ăn lót lòng. Trong khi vui vẻ trò chuyện cùng vợ, thình lình như ai xô tách cà-phê đổ đầy mình. Ngực hồi hộp, tay rung; vài hôm sau mới rõ, trong giờ đó, đúng phút đó người anh rất yêu mến đương quằn quại trên giường chết.
Trong phút cay nghiệt ấy, bà con, hoặc thân thích của kẻ chết, nhiều khi ở thật xa, tự-nhiên nhớ lại, hoặc mơ bóng, thấy hình ảnh người đương theo tử-thần. Có khi tiếng kêu dữ dội mà chỉ một người nghe được; cánh cửa tự-nhiên mở. những thú-vật trong khi sanh tiền người chết hay tưng tiu cho ta biết sự bất tường: chó đương nằm chỗi dậy tru nghe thảm thiết; mèo đương yên giấc, giực mình đứng lùi lại kêu thê thảm. Sau mới rõ chính giờ đó người chủ thường triều mến nó trong giờ phút ấy đương quằn quại cùng sự chết. Còn nhiều điểm nữa không thể nào kể hết cho hai anh nghe. Vậy ta cũng nên biết có nhiều trường hợp người đương chết dầu ở thật xa duờngnhư muốn báo tin buồn cho những người bạn thân được rõ. Tại sao khi có, lúc lại không: nào ai biết.
Trái lại người chết có cảm động vì nỗi khổ tâm của người yêu chăng. Xác của tướng giặc họ Từ có vì suối lệ của tình-nương mà ngã xuống chăng. Đó là một vấn-đề khác. Vì chưa có ai ở thế giới bên kia về trả lời cho ta câu hỏi đó… vậy oan khí có tương triền… xin để lại một bên. Chuyện cầu tiên, cầm cơ, là một vấn đề khác…”.
Nhiều mảnh đêm lẩn núp vào căn phòng êm-tịnh; ba anh em chìm trong giấc mộng dài. Tiếng anh Mỹ vang lên như xé bức màn êm thấm:
Ông F.Challaye thuật lại khi du-lịch bên Nhựt, có được nghe một chuyện đời xưa đầy thi-vị. Nhà triết học Đức, có chơn trong ban du-lịch lên tiếng “phỏng vấn” chủ nhân, người kể chuyện: xin ông cho chúng tôi biết ngụ ý sâu xa của chuyện ông vừa mới thuật. Thung dung, người Nhựt dưng cho mọi người một chén trà với cành hoa đào tươi đẹp: cần chi ông phải nhọc công suy xét. Nếu trà nầy được ông ưa thích thì mời ông cứ tự nhiên, còn nhành hoa đẹp mắt, xin ông cứ thưởng thức. Hơi đâu phải lao tâm mệt trí để suy nghĩ tại sao hoa kia có màu sặc sỡ, trà nọ đầy mùi bát ngát. Như câu chuyện tôi đã thuật, nếu có đem lại cho các ông một vài lý thú thì già đây đã hài lòng, và xin quý ông xem câu chuyện ấy như một chén trà, như một cành đào, công đâu mà tìm nghĩa sâu xa trong đó.
Câu trả lời của ông già nước Nhựt, bữa nay tôi xem như cần phải lặp lại. Nếu mấy câu của cụ Tiên điền còn đọng lại một chút thi-vị, mời hai anh cứ thưởng thức, cần chi phải tìm tòi, cho đến nỗi sự chết hùng dũng của Từ Hải chỉ là gân với cốt, còn nước mắt rất nên thơ của Thúy Kiều chỉ là sự ngã tự-nhiên của vật vô tri. Riêng phần tôi, bao giờ tôi cũng chịu mấy câu sau đây là chí lý:
“Hằng-Nga, Quảng-Hàn, liệu có thể là có, mà tự mình không muốn bảo là không; lại cả như Khiên-Ngưu, Chức Nữ, Ngân-Hà, có lẽ cũng là không mà thế gian vẫn cứ nói như có. Vậy phàm câu chuyện của người đời có nói, tai có nghe, cứ chi là có là không, không hay có ở lòng ta vậy”.
Đó là một câu trong bài tựa của nhà thi sỹ Tản-Đà viết cho quyển Liêu-Trai chí-dị, mà tiên sanh vừa dịch xong trước ngày chết; tôi xin mạn phép hai anh lấy câu đó để kết luận cuộc bàn cãi hôm nay.
DƯƠNG TẤN TƯƠI
ĐỖ THIÊN THƯ st (bút hiệu của Dịch giả VŨ ANH TUẤN)

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*