Trích tác phẩm “Thời lửa đạn” của ông Hoàng Hữu Thanh:

Trích tác phẩm “Thời lửa đạn” của ông Hoàng Hữu Thanh:
…Minh Lệ là nơi đất học. Ngày xưa hệ thống giáo dục không rộng rãi trong toàn dân như bây giờ, chủ yếu là do từng cá nhân tổ chức. Những người biết chữ dạy cho những người chưa biết chữ. Ai có nhu cầu thì xin thầy đến học, hàng tháng phải trả tiền học phí. Có khi không có tiền thì họ trả bằng lúa hoặc khoai. Họ dạy Tam tự kinh cho trẻ con và được gọi là thầy đồ. Ở xóm Nam, ngày nay người ta thường gọi bố vợ tôi – cụ Trần Dao là “thầy đồ Dán” vì lí do như vậy. Dán là tên anh Trần Đình Dán – anh cả của vợ tôi. (Người miền Trung mình thường gọi tên bố mẹ theo tên người con đầu lòng). Tôi cũng nghe thầy giáo Hoàng Hữu Sam nói trong làng Minh Lệ vẫn có những thầy văn hay chữ tốt được vua vời vô dạy chữ cho con cái các bậc Vương gia trong triều đình Huế. Ở làng cũng có những người thầy hay chữ nổi tiếng khắp vùng như thầy Thoong.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong làng có nhiều người đi lính cho Nam triều. Nhưng người may mắn nhất vẫn là ông Trương Thạc. Ông làm đến quan thất phẩm và người ta thường gọi là ông Thất Khiếng (ông Hòa). Ông Trương Thạc đã từng sang phục vụ vua Hàm Nghi ở Alger từ năm 1938 đến năm 1944. Ông sang làm bạn với ông vua yêu nước bị lưu đày nơi xứ người cho đến khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Vua Hàm Nghi mất ngày 14 tháng 1 năm 1944 tại Alger vì bị bệnh ung thư dạ dày. Lúc đó các đứa con của vua như hai công chúa Như Mai, Như Ý và hoàng tử Minh Đức đều ở Pháp. Nước Pháp đang bị quân Đức của Hitler chiếm đóng nên không một người con nào của Hàm Nghi sang Alger được để chịu tang cha. Chính quyền Pháp do Pétain đứng đầu thân Hitler kiểm soát nước Pháp rất chặt nên dân Pháp và dân thuộc địa của Pháp ra khỏi nước Pháp đến Alger là rất khó khăn. Mãi đến tháng 6 năm 1944, quân đồng minh đổ bộ lên giải phóng nước Pháp thì những người làm việc cho Pháp mới đến Alger được. Các con vua Hàm Nghi đến được Alger thì người cha của họ đã mất được nửa năm. Tài sản của vua Hàm Nghi để lại không có gì quý giá ngoài các bức tranh của ông vẽ. Những bức tranh đó ông tặng cho những người bạn thân thiết làm kỉ niệm. Trương Thạc là người Việt Nam duy nhất cuối cùng bên linh cửu của ông.
Trong cuốn sách viết về nhà vua Hàm Nghi, nhà văn Hải Âu đã dành một chương nói về tình bạn của ông Trương Thạc với vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi đã coi Trương Thạc như một người bạn, một người dân của một đất nước nô lệ đang sống lưu vong nơi xứ người. Triều đình An Nam phái ông sang phục vụ vua trong ba năm cho ngài bớt cô đơn, nhưng kẹt chiến tranh thế giới lần thứ hai cho nên kéo dài đến sáu năm. Sau này ông Trương Thạc về làng ở chòm Minh Hòa, xóm Bắc Minh Lệ cách nhà tôi chưa đến một trăm mét, ông là xã viên hợp tác xã nông nghiệp Tây Bắc. Năm 1976, một hôm ông đi cày ruộng về bị nước ăn chân, ông xin được một viên thuốc Pê-nê- xi-lin bôi vào kẻ chân thì bị phản ứng thuốc và mất.
Nay anh Trương Huế con ông vẫn lưu giữ được một bộ cúc áo của vua Hàm Nghi. Ngoài các bức tranh mà vua Hàm Nghi tặng bạn bè là vật thể di sản văn hóa được đấu giá rất cao thì vua còn để lại một tài sản vô giá là tinh thần dân tộc không bao giờ mai một của một ông vua yêu nước bị lưu đày.
Anh Trương Huế hồi còn nhỏ đi học với tôi cùng một lớp tại trường Tiểu học Thọ Linh. Khi cai trị được nước An Nam, người Pháp lập nên ngôi trường đầu tiên dạy cho học sinh vùng Nam Quảng Trạch tại Thọ Linh (Quảng Sơn). Mỗi làng có một trường do dân làng dựng lên gọi là hương trường. Ở Minh Lệ có hương trường tại trung tâm hai xóm Tây – Bắc. Trường chỉ có ba lớp.
Lớp Đồng Ấu (Cours En fantin)
Lớp Dự Bị (Cours Préparatoire)
Lớp Sơ Đẳng ( Cours Élémentaire)
Ba lớp đầu gọi là bậc Sơ học. Học xong lớp Sơ Đẳng, học sinh thi lấy bằng sơ học yếu lược (Primaire Élémentaire). Muốn học lên cao đẳng tiểu học (Primaire) phải đến trường Tiểu học “École Primaire Complémentaire de Thọ Linh”.
Khi tốt nghiệp tiểu học xong thì chỉ có một số gia đình khá giả mới cho con em vào Đồng Hới, Huế, Bình Định, Quy Nhơn học tiếp. Những người học đến tú tài rất hiếm. Cả làng tôi chỉ có một người học đến tú tài như anh Hoàng Hữu Đản. Hai anh Hoàng Thúc Cảnh, Hoàng Hữu Xứng có bằng cao đẳng tiểu học (Diplôme d,Étude Primaire Supérieurs Franco-lndigène), còn gọi là bằng Thành Chung. Đây là hai gia đình ở xóm Tây có con cái được học hành đến nơi đến chốn, trở thành những nhân vật nổi tiếng không những chỉ trong làng mà cả nước đều biết đến.
*
* *
Xóm Tây là xóm có nhiều gia đình có người làm quan và lắm chữ nghĩa nhất trong làng. Họ bán ruộng nương cho con cái học hành. Xóm Bắc làng tôi đồng xôi, ruộng mật. Đa số con em học xong về nhà làm ruộng. Về vụ mùa các cánh đồng làng đa phần làm lúa vãi. Chỉ có những ruộng sâu ở các rôộc, bàu cấy lúa Nước Hai. Các cánh đồng gần làng như Cửa Nương, Nương Giữa, Trường Học lúa tốt bời bời. Những ruộng tốt thì trồng lúa Mành, ruộng cao như đồng Dứa, Giếng Đồng, đồng Chăm, đồng Văn Vũ người ta thường vãi lúa Ba Trăng, lúa Chành, lúa Ré. Chờ mưa xuống là đàn ông đàn bà kéo nhau xuống đồng tét chỗ lúa dày dắm sang chỗ thưa.
Những gia đình xóm Bắc có chút của ăn của để, vẫn ăn cơ nhịn cực để dành tiền mua ruộng. Về vụ chiêm, khoai Đập Ngang, Giếng Đồng củ to như bắp vế. Khoai đồng Lòi, đồng Chăm củ nhỏ hơn nhưng mà thơm và ngọt. Người Minh Lệ hay ví củ khoai lang là “sâm Việt Nam”.
Đất làng Minh Lệ phía tây giáp với Quảng Sơn, phía bắc giáp Quảng Hòa. Sau cải cách ruộng đất tôi có về làm sổ sách ở xã mấy tháng, tôi thấy có 4 mẫu, 8 sào đất ở cánh đồng Văn Vánh nhô ra sát với Quảng Hoà. Ngày vào hợp tác xã, Ban quản trị đã “bắn” cho hợp tác xã Cao Cựu Biên. Một số đất đai phía ngoài đồng Tiền Miếu và phía dưới Hói Đồng “bắn” cho Hòa Ninh làm nghĩa địa.
Những đồng cao có đất cát pha của làng Minh Lệ rất hợp với cây bông, cây lạc. Giữa những ruộng lạc và bông bà con trồng xen thêm ngô, hành, ớt, tỏi. Xóm Nam trồng lạc ở đồng Cơn Ươi, Tây – Bắc trồng ở đồng Chăm, đồng Văn Vũ.
Tôi còn nhớ trước Cách mạng, có năm được mùa lạc. Lạc cày xong rũ sạch đất phơi từng hàng đến bốn, năm ngày ngoài đồng cho khô nhưng không hề bị mất mát. Con buôn ngoài chợ Thượng (Hà Tĩnh) vào mua tại ga Minh Lệ. Ban đầu là lạc vỏ, sau là lạc nhân. Lượng người tràn về đông quá nên nhà ga không cho bỏ lên tàu nữa. Thế là họ thuê 2 héc ta ở đồng Đình để dựng xưởng ép lạc. Cứ mỗi ngày ép được 4 tấn lạc nhân. Nhân dân ba huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa mang lạc về nhập cho họ. Được mùa, họ ép giá xuống chỉ còn một nửa. Các anh lớn tuổi hơn tôi tổ chức họp bàn, đấu tranh với chủ xưởng để nâng giá lạc. Không ngờ bọn cướp nơi khác đến kết hợp với một số phần tử xấu ở xóm Nam Minh Lệ đến đốt mất xưởng ép dầu lạc. Các thùng dầu nổ như bom, những ngọn khói đen ngòm bốc cao hàng chục mét. Dân làng tôi trồng lạc không còn nơi tiêu thụ.
Phía đông làng Minh Lệ có cánh đồng Lăng Bạc hay còn gọi là đồng Lăng Trắng. Đồng Lăng Bạc giáp với Hói Đồng và hồ Tù Bình của Quảng Hòa. Đất Lăng Bạc là đất hang rươi, vụ chiêm chỉ trồng được một vụ lúa Nước Hai, vụ mùa để cỏ năn cỏ lác mọc đầy. Mảnh đất ấy rất thích hợp với việc làm hồ tôm, hồ cá nhưng ngày ấy chưa ai biết đánh bắt và nuôi trồng hải sản như bây giờ.
Cha tôi mua một mảnh ruộng trên đường từ chợ Mới ra Hòa Ninh của ông Thập Cháu. Mảnh đất này nằm đúng nơi thấp nhất của cánh đồng Nguyên Toại phía trong đồng Lăng Bạc. Cha tôi cho con cái đào mảnh ruộng xuống thành một cái đìa. Đất đắp lên theo đập ông Đành thành đường đi chợ. Người dân Hòa Ninh đi chợ Mới không phải lội nước như những năm trước. Người ta thường gọi vùng đồng nhỏ này là “đồng đìa ông Chề”. Về mùa hè nước rút cạn dần, cá theo nước tràn xuống đồng Nguyên Toại mà vào “đìa ông Chề”. Ban đêm đi giữa đồng, nghe tiếng cá quẫy nhiều người yếu bóng vía cứ tưởng ma. Cứ mỗi bữa tát đìa, tôi phải xuống thả mồi ở cửa đìa nhử cá vào trước rồi mới đắp cửa đìa để tát. Đi tát đìa phải chuẩn bị dây dợ của các chiếc gàu dai cho chắc chắn. Cả nhà xách theo một cái ống đựng nước uống làm bằng lồ ô. Buổi khuya các anh chị tôi phải tập trung đến ăn cơm để đi tát cá. Có khi cá tát được hàng gánh, đổ đầy cả một cái nống (cái nong). Các loại cá chưng, cá gáy, cá hanh, cá móm theo nước lụt tràn về, có những con cá mẹ kẻ to hơn chiếc đòn, nặng đến dăm ba cân. Lươn thì đựng trong cái nồi bung. (Cái nồi bung là của người Quảng Tân đền nhân mạng cho một người trong họ của tôi khi đi tìm trâu bị bọn cướp chém chết trên Đồng Đâu). Những con lươn to dài như cán dao hèo vàng rộm. Cha tôi thường dành những cặp cá gáy hay cá mẹ kẻ to nhất biếu các nóc thông gia. Về sau còn có thêm đìa của ông Rịnh và đìa ông Khuyềng nhưng họ ở nơi cao hơn, lại không biết làm mồi nhử cá nên được ít.
Mùa nước cạn, anh em chúng tôi thường đi đào hầm cá nhảy giữa các bờ làn. Nhớ đến tuổi thơ đơm mợng, đơm lờ, đến nay tôi vẫn thấy thòm thèm.
Bên cạnh nghề làm ruộng thì dân làng Minh Lệ còn đi rừng chẻ mây, lấy củ nâu, chặt giang, “ăn” lá nón. Họ lấy về bán ở chợ Họa, chợ Đồn. Ngày giáp hạt họ chỉ biết bám lấy rú rừng để chạy gạo nuôi con.

2 Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*