PHỤ NỮ VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC SINH CON NHƯ THẾ NÀO

PHỤ NỮ VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC SINH CON NHƯ THẾ NÀO? – QUÁ TRÌNH THỰC DÂN HOÁ NHÌN TỪ VIỆC SINH ĐẺ
(Đọc sách “Sinh con, Mẫu tính, Đa nguyên y học ở Việt Nam thời thuộc Pháp 1880-1945” của Nguyễn Thuỳ Linh)
Khác với nhiều công trình nghiên cứu trước đây đề cập đến quá trình thực dân hóa của thực dân Pháp ở Việt Nam trên phương diện chiến tranh lãnh thổ và các phong trào văn hoá, xã hội, và chính trị, giáo sư Nguyễn Thùy Linh (hiện đang giảng dạy ở Mount Saint Mary College) đem đến một góc nhìn mới mẻ về quá trình thực dân hóa ở Việt Nam trên phương diện y tế, cụ thể, từ thực hành sinh đẻ của phụ nữ trong giai đoạn 1880-1945.
Quyển sách bắt đầu bằng những quan sát của bác sĩ người Pháp và quan chức chính quyền thuộc địa về tập tục sinh đẻ của người Việt Nam bản địa.
Theo ghi chép của các bác sĩ và những nhà nhân học thời kỳ này, phụ nữ đến kì được đưa vào một căn phòng nhỏ, với ngọn đèn tù mù. Họ được đặt nằm trên một chiếc chõng tre. Dưới chõng đặt một bếp lửa nhỏ, giữ ấm cho thai phụ trong suốt quá trình sinh con, và một tháng ở cữ sau đó (“nằm bắc lửa”). Người Việt Nam tin rằng việc giữ nhiệt độ cao sẽ giúp cho phụ nữ mau đào thải “máu xấu” và những thứ tồn dư trong cơ thể họ sau khi sinh. Phong tục này khiến nhiều phụ nữ và trẻ sơ sinh chết do ngộ độc khí CO.
Trong quá trình “vượt cạn”, thầy pháp sẽ tiến hành những nghi lễ để xua đuổi ma quỷ, không cho chúng làm hại bà mẹ và trẻ em.
Người Pháp hoàn toàn không hiểu vì sao người bản địa lại dựa chủ yếu vào vai trò của những “bà mụ”/”mụ vườn” mù chữ, hoàn toàn không có kiến thức về y khoa. Những “bà mụ” này theo miêu tả của người Pháp là những người phụ nữ quần áo nhếch nhác, mồm nhai trầu, liên tục khạc nhổ, với móng tay đen xì cáu bẩn.
Trong quá trình sinh đẻ, bà mụ dùng tay hoặc chân họ ép mạnh vào vùng bụng của người phụ nữ để cho đứa trẻ nhanh ra đời. Một số bà mụ làm quá tay, dẫn đến cái chết thương tâm của cả mẹ và con.
Sau sinh con, “bà mụ” sẽ cắt rốn cho trẻ bằng dao tre hoặc sứ, sau đó khâu rốn bằng kim chỉ khâu thông thường không qua tiệt trùng cẩn thận. Theo miêu tả của bác sĩ Pháp, bà mụ, một lần nữa, dùng chân dẫm hoặc tay ép mạnh vào vùng bụng của phụ nữ để đẩy nhau thai cùng máu đọng ra. Một số “bà mụ” không kiên nhẫn, dùng tay trần bẩn thỉu đưa thẳng vào tử cung của phụ nữ để “móc” nhau thai và máu đọng ra ngoài.
Người Pháp cho rằng thực hành đỡ đẻ kiểu này là nguyên nhân gây ra tình trạng tử vong của thai phụ cùng tình trạng chết non của trẻ trong và sau khi sinh. Ở Sài Gòn, 27.2% trẻ sơ sinh chết non trong quá trình sinh đẻ (1905), 42.6% (gần một nửa!!!) trẻ em chết ngay trong năm đầu tiên sau khi được sinh ra. Riêng khu vực Chợ Lớn của Sài Gòn năm 1900, chỉ có 22.43% số trẻ sinh ra sống sót sau năm đầu tiên (77.57% tử vong!!). Phụ nữ tử vong trong quá trình sinh con cũng đặc biệt cao. “Chửa cửa mả” là thành ngữ phổ biến vào thời kỳ này.
Các bác sĩ và quan chức chính quyền thuộc địa muốn xoá bỏ, thay đổi tập tục sinh đẻ và chăm sóc trẻ con của người Việt Nam bản địa. Họ bắt đầu bằng việc bôi xấu hình ảnh “bà mụ” như là những người thực hành y tế nguy hiểm và không chuyên nghiệp.
Tiếp đó, người Pháp tuyên truyền về việc sinh con trong bệnh viện phụ sản, cho rằng cách sinh con như vậy là “sạch sẽ”, “an toàn” và văn minh. Bệnh viện Phụ sản đầu tiên được xây dựng năm 1901, ở Chợ Lớn, Sài Gòn có nhiều nỗ lực để giảm thiểu tỉ lệ bà mẹ và trẻ em tử vong trung và hậu sản, nhưng ảnh hưởng còn hạn chế. Tình trạng phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc, và giá thành đắt đỏ khiến người Việt không muốn đến những nơi này. Tâm lý và văn hoá của phụ nữ Việt thời gian này cũng không thực sự thoải mái với việc sinh đẻ ở bệnh viện.
Người Pháp nhận ra bệnh viện phụ sản không đem lại hiệu quả như họ mong muốn. Vì vậy họ phải thay đổi chiến lược. Lần này họ tiến hành đào tạo hàng loạt “bà mụ Tây học” để “dung hoà thực hành y học kiểu Pháp và văn hoá bản địa.
Những “bà mụ” này là người Việt Nam, thực hành đỡ đẻ kiểu Pháp, có kiến thức về vệ sinh dịch tễ và phòng chống nhiễm trùng. Sau khi được đào tạo cẩn thận nghiệp vụ đỡ đẻ, những “bà mụ Tây học mặc áo choàng trắng” được cử về địa phương, phụ trách chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho người bản địa. Song, bản thân họ liên tục phải đối mặt với tình trạng kì thị chủng tộc từ những đồng nghiệp người Pháp, công việc quá tải, cùng sức ép từ tập tục và văn hoá của người dân bản địa khiến cho nhiều người phải từ bỏ công việc, bị cô lập và gặp nhiều vấn đề về tâm lý. Số lượng “bà mụ Tây học” giảm nhanh.
Quy trình đỡ đẻ và chăm sóc hậu sản của người Pháp do những bác sĩ là đàn ông đề ra. Họ không đếm xỉa, thậm chí coi thường tâm lý và tình cảm của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ bản địa An Nam, da vàng. Cơ thể và thể chất của người An Nam thời kì đó cũng khác với phụ nữ châu Âu. Việc áp đặt những quy trình đỡ đẻ và hậu sản kiểu Pháp vào xã hội Việt Nam gây ra nhiều phản ứng.
Sau hơn 20 năm, cho đến đầu những năm 1920s, người Việt ở đô thị phần nào đã thay đổi tập quán sinh đẻ của mình, song ở khu vực nông thôn rộng lớn của Việt Nam, người Pháp hầu như không có bất kì tiến bộ nào. “Văn hoá bà mụ”, “văn hoá mụ vườn” đã ăn sâu trong đời sống của người Việt ở nông thôn đến mức những “bà mụ” truyền thống là những người duy nhất có thể đưa ra lời khuyên cho phụ nữ bản địa, đồng thời có quyền lực tuyệt đối trong việc thực hành đỡ đẻ ở địa phương với mạng lưới “khách hàng” trung thành rộng lớn.
Cuối những năm 1920s, thừa nhận đã thất bại trong việc thay đổi tập quán sinh đẻ của người Việt ở nông thôn, người Pháp buộc phải công nhận vai trò của “bà mụ truyền thống”. Họ tiến hành chiêu mộ, đào tạo, và hỗ trợ hoạt động của những “bà mụ truyền thống đã qua đào tạo” ở địa phương. Bất kể bà mụ hay phụ nữ nào, dù mù chữ hay biết chữ, già hay trẻ, hiểu biết về địa phương đều có thể tham gia chương trình đào tạo của nhà nước.
Những “bà mụ” này được đào tạo các kĩ thuật tiệt trùng, đỡ đẻ vệ sinh, xử lý hậu sản, phá thai, chống nhiễm trùng, tiêm chủng – vắc xin, tắm cho trẻ con, tại những cơ sở nhà nước. Sau khi được đào tạo, những bà mụ này được cấp dụng cụ y tế và thuốc men, quay lại địa bàn của họ, và tiếp tục tác nghiệp.
Nếu như những bà mụ Tây học chỉ giới hạn hoạt động của họ ở các trạm y tế địa phương thì những “bà mụ truyền thống đã qua đào tạo này” là những người hiểu rõ nhất văn hoá, tín ngưỡng của khu vực họ đang sinh sống. Họ cũng không ngại xông xáo và chăm sóc khách hàng của họ bất kì thời gian và địa điểm nào. Với bằng cấp và sự hỗ trợ của chính quyền thuộc địa, những bà mụ được đào tạo này đã nhanh chóng có ảnh hưởng rộng lớn và thay đổi tập quán sinh đẻ của người Việt Nam ở nông thôn.
Thực hành đỡ đẻ của người Việt Nam đã chính thức thay đổi theo hướng đảm bảo vệ sinh và ngăn chặn nhiễm trùng, truyền nhiễm cho bà mẹ và trẻ nhỏ. Đồng thời, thực hành đỡ đẻ phương Tây buộc phải thừa nhận sự “đúng đắn” và “cần thiết” trong việc chấp nhận văn hoá bản địa, cân nhắc vai trò tâm lý của người phụ nữ bản địa trong quá trình sinh đẻ.
Người Pháp thời kì này ghi nhận và chấp nhận tính chất hợp lý của nhiều tập tục sinh đẻ truyền thống của người bản địa ví dụ như: nuôi con bằng sữa mẹ, điều tiết chế độ ăn của bà mẹ khi mang thai, chế độ tập luyện thân thể nhẹ nhàng, và chế độ “thai giáo”.
Vào thời kì này phụ nữ Việt Nam phải tuân thủ chế độ “thai giáo” nghiêm ngặt vì họ tin rằng bất kể những gì người mẹ nhìn, ăn, sờ, ngửi, nếm đều góp phần định hình đặc tính của thai nhi. Bà mẹ mang thai không gặp mặt người xấu, người không thật thà, không nghe những câu chuyện dâm tục, không nhìn những thứ xấu xí, và không làm điều ác. Phụ nữ cũng không quan hệ tình dục trong quá trình mang thai.
Công trình của Nguyễn Thuỳ Linh là một công trình hết sức xuất sắc, có cống hiến và giá trị rất cao đặt trong bối cảnh nghiên cứu nhân học – lịch sử y tế thế giới.
Hiện giờ, giới nghiên cứu có hai xu hướng trong việc đánh giá ảnh hưởng của quá trình thực dân hoá trên phương diện y tế. Xu hướng thứ nhất, đề cao quá trình truyền bá y tế, khoa học phương Tây vào Việt Nam là văn minh, tiến bộ, khai hoá cho người dân bản địa. Xu hướng này phổ biến ở Việt Nam.
Xu hướng thứ hai, phổ biến ở nước ngoài, cho rằng quá trình thực dân hoá y tế đã huỷ diệt kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ của người bản địa, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến thân thể và sức khoẻ của phụ nữ và người dân bản địa. Xu hướng này lên án những diễn ngôn thực dân về “văn minh”, “tiến bộ”, và “khoa học”.
Cống hiến lớn nhất của Nguyễn Thuỳ Linh là đã chỉ ra rằng cả hai góc nhìn đều quá phiến diện. Tác giả chỉ ra rằng thực dân hoá và bản địa hoá là hai mặt không thể tách rời. Y học phương Tây đã thay đổi cách người Việt sinh con, đồng thời kinh nghiệm bản địa của người Việt đã thay đổi hoàn toàn thực hành y học phương Tây ở Việt Nam dưới thời thuộc Pháp.
Công trình của Nguyễn Thuỳ Linh cung cấp một góc nhìn thực tế hơn cho nhân loại học phát triển. Những nhà nhân loại học phát triển hiện nay giữ một thái độ quá khắt khe với những diễn ngôn về “phát triển”, “văn minh”. Họ thiên về “tố cáo” những tội ác mà “phát triển” cùng “văn minh” đem đến cho những cộng đồng bản địa. Nhưng nhờ những công trình như thế này, có lẽ họ sẽ trở nên công bằng hơn khi đánh giá về ảnh hưởng của quá trình thực dân hoá với những cộng đồng yếu thế.
Điều đáng tiếc lớn nhất, theo tôi là quyển sách cực kỳ giá trị này ra đời quá sức lặng lẽ, ít người biết đến, không thấy có bài điểm sách nào bằng Tiếng Anh, Việt, Pháp. Chúng tôi có lẽ là người đầu tiên giới thiệu quyển sách này bằng tiếng Việt?
Tên sách: Childbirth, Maternity, and Medical Pluralism in French Colonial Vietnam, 1880-1945
Tác giả: Nguyen Thuy Linh
Nhà xuất bản: Rochester, Rochester Studies in Medical History
Năm xuất bản: tháng 11 năm 2016
Tình trạng: Đã có bản điện tử
—————————
Thư viện Nhân học là một thư viện phi lợi nhuận, chúng tôi chủ trương TẬP HỢP TOÀN BỘ những tư liệu NGHIÊN CỨU hoặc PHỤC VỤ CHO NGHIÊN CỨU về VIỆT NAM ở nước ngoài bằng các thứ tiếng ANH – TRUNG – VIỆT – NHẬT – HÀN – PHÁP về một nơi để tiện cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước có cơ sở để tra cứu tư liệu phục vụ cho nghiên cứu của mình. ĐÂY SẼ LÀ THƯ VIỆN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM có quy mô LỚN NHẤT và HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ BẤT KÌ HẠN CHẾ NÀO TRONG VIỆC SỬ DỤNG DỮ LIỆU.
Chi phí vận hành lưu trữ dữ liệu cực kỳ lớn, cộng với việc trả lương cho các bạn tình nguyện viên thu thập và chỉnh lý tư liệu liên tục trong một thời gian dài khiến chúng tôi bắt buộc phải thu phí tham dự là 500 ngàn đồng 1 năm
Thư viện hiện có 170 ngàn đầu tư liệu đã qua chỉnh lý và hơn 10 triệu đầu sách đang trong quá trình chỉnh lý.
Để được hướng dẫn đăng ký, xin gửi tin nhắn.

58 Comments

  1. Phúc Anh ơi chị cần một số tài liệu về ảnh hưởng của Pháp đối với văn hóa Việt Nam. Em có thể chỉ dẫn cho chị được không

  2. Cảm ơn em Nguyen Phuc Anh. Đọc stt giới thiệu cuốn sách chị nhớ ngay đến chương trình đào tạo nữ hộ sinh người dân tộc cho Sóc Bom Bo, Bù Đăng, Bình Phước… của Bs Nguyễn Thị Ngọc Phượng và BV Từ Dũ đã bền bỉ thực hiện cách nay mười mấy năm (chị từng tham dự). Khi ấy tình trạng sinh đẻ của phụ nữ dân tộc ở những vùng sâu này chẳng khác phụ nữ VN đầu thế kỷ trước là mấy.

  3. Cám ơn Nguyen Phuc Anh. Nếu sách mới xuất bản th 11/2016 thì bài giới thiệu này không quá muộn. Nhưng chắc bạn ấy đã bảo vệ mấy năm trước rồi. Mình cũng mong sớm đọc được quyển sách này.

    • Em đã đưa vào thư viện nhân học cô ạ. Bản scanned đẹp. Chắc ngày mai mọi người sẽ được cập nhật <3

    • Sớm có lắm anh ạ. Những sách em giới thiệu, nhiều nhà xuất bản nhờ em xin hộ bản quyền để xuất bản. Nên em nghĩ sớm muộn đều sẽ xuất bản bằng tiếng Việt cả thôi ạ 😀

  4. Có cuốn sách nào mới, đại ca tag em với nhé để cho lên tường nhà. Em cám ơn đại ca. Sách này hay quá.

    • Có Quỳnh Anh ạ. Tất cả sách anh giới thiệu đều đã và sẽ có bản scanned trong thư viện nhân học

  5. Vâng em sẽ vào kiểm tra lại ạ. Anh cho em hỏi thêm có cuốn nào nào nói về nghi lễ vòng đời của Việt Nam kèm hình ảnh như này ko anh? Em cảm ơn anh nhiều ạ

  6. Quynh Anh Vu Cụ thể là nghi lễ vòng đời nào hả em? Nghi lễ trong cuộc sống hàng ngày của người Việt hả em?

  7. ngày mai sách sẽ được cập nhất cho tất cả các máy chủ nhé em. Nên em chịu khó chờ chút 😀 sau 24 tiếng tất cả các máy chủ đều có sách 😀

  8. Vâng ạ. Ngoài mấy cuốn của Phan Kế Bính với Toan Ánh thì em có rồi. Có cuốn nào tiếp cận nhân học ý ạ

  9. Sao bạn Nguyen Phuc Anh không làm giám đốc xuất bản của một nhà xuất bản nào đó nhỉ.

  10. dạ anh 🙁 em đến tuổi một số việc lực bất tòng tâm rồi anh ạ. Tri thiên mệnh, an nhiên tự tại thôi anh 🙁

  11. duy trì Thư viện Nhân học, tìm kiếm nhiều nguồn sách quý phục vụ bạn đọc đã là nỗ lực rất lớn của Phúc Anh và cộng sự rồi ạ. Mong anh Tài và bạn bè tiếp tục ủng hộ Thư viện để Thư viện hoạt động ạ 😉

  12. Anh an tâm anh ạ. Những sách này chắc chắn sẽ có nhà xuất bản nhận dịch sớm. Có nhiều nhà xuất bản đã liên hệ với em nhờ xin bản quyền ^_^

  13. Em quen chi Linh khong? Ban chi day, hay de xuat voi chi ay chuyen ngu sang TV va in o VN di. Chi y da trinh bay cong trinh nay o vien Su he 2016. Sach moi ra vai thang chua co revue ngay cung de hieu thoi em a.

    • Dạ chị ^_^ tại em thấy nghiên cứu của chị Linh hay quá mà không giới thiệu thì phí thật. Nếu chuyển ngữ được quyển này thì tốt quá, những nghiên cứu như thế này em nghĩ nên phổ biến sớm nhất có thể.

  14. Anh Phúc Anh còn bị Cộng đồng đọc sách “tinh hoa” gạt ra khỏi cộng đồng ko biết bao nhiêu lần, anh nhỉ :v

  15. Ok bạn Bich Van Tran. Mình cũng xin lỗi là chưa đóng góp cho thư viện Nhân học được, lí do không phải mình không có khả năng mà mình đang bận quá. Hè mình sẽ ủng hộ. Thân.

  16. dạ, cảm ơn anh Tài. Mong anh chia sẻ cho mọi người biết thêm về Thư viện Nhân học ạ. em tin rằng lượng kiến thức trong Thư viện sẽ đáp ứng tốt mọi nhu cầu học hỏi của mọi người ạ <3

  17. Cám ơn em. Để chị bảo anh Hùng liên lạc với em nhé. Em giúp anh ấy đăng kí làm thành viên.

  18. ko thực ra đang lướt fb và nó hiện ra thôi :v ai ngờ đọc tiêu đề ở đầu và ghi nguồn là thư viện nhân học nên lật lại đọc hết, ai dè nó hay vl :v

  19. Nguyen Phuc Anh Thanh niên tiền tuyến ơi, chị đã có hồi âm của Linh rồi, sẽ kể sau nhé, bà PGS trẻ đang ngồi đọc bài giới thiệu của em 🙂

  20. <3 ựa <3 mong là chị ấy ko phật ý, em viết khi ngồi trên máy bay nghiền ngẫm sách của chị ấy :D

  21. Nguyen Phuc Anh Khiêm tốn làm chi, chàng trai, viết hấp dẫn mà! Làm KH mà lo phật ý nhau thì làm làm giề 🙂

  22. Dạ em xem rồi ạ. Em cũng có bản sách giấy. Đợt này em muốn tìm cuốn nào tiếp cận nhân học viết về nghi lễ vòng đời mà chưa tìm đc tác giả hoặc tác phẩm nào mới ạ.

  23. Cảm ơn em đã giới thiệu quyển sách của chị đến với độc giả Việt Nam. Chị rất bất ngờ vì quyển sách mới xuất bản mà đã được mọi người biết đến. Cho chị mượn link này của em để chị giới thiệu với bạn bè chị nhe’.

    • Thư viện Nhân học là Thư viện điện tử bạn ạ. Bạn có thể tìm kiếm thông tin về Thư viện sau mỗi bài viết của Phúc Anh. Mời bạn tìm hiểu. Nếu bạn muốn đăng ký làm thành viên Thư viện, bạn inbox cho Phúc Anh nhé 🙂

  24. Cám ơn Nguyen Phuc Anh . Bài giới thiệu hay quá . Link nó với ” Đội ngũ đặc biệt của đội quân tóc dài ” của Bs Trần Hữu Nghiệp sẽ có thêm một mảnh ghép vào bức tranh y tế cộng đồng ở nông thôn MN VN từ sau 1945 với đội ngũ ” cô đỡ ” trong dân !

  25. Chúc mừng Linh nhé! Cảm ơn tác giả đã review cuốn sách để bạn bè biết thêm về nghiên cứu của Linh.

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*