#midnightthoughts

#midnightthoughts
Trích đoạn “Có một nước Mỹ rất khác” (tiếp theo)
Thời gian sáu năm ở Mỹ của tôi không hẳn chỉ có những kỉ niệm buồn mà còn có những trải nghiệm độc đáo và thú vị để lại những kỉ niệm không bao giờ phai nhạt trong lòng.
1. “…Dường như hiểu được điều đó, người hướng dẫn lúc này hướng sự chú ý của mọi người vào hình ảnh của bà vú và sợi dây thừng trong khung treo kế đó. Ông ta nói rằng vì bị thiêu sống nên hồn ma của bà vú đặc biệt nhạy cảm với lửa. Để chứng minh, ông bật một que diêm lần lượt soi vào mặt của những nhân vật trong hình thật chậm rãi. Sau khi soi hết mặt của hai vợ chồng và hai cô con gái, que diêm cũng dần tắt. Nhưng khi ông đưa que diêm đến gần mặt của bà vú, que diêm đột nhiên bừng cháy sáng khiến mọi người ồ lên kinh ngạc. Ông lại bật một que diêm khác, đợi nó cháy gần hết rồi đưa về phía sợi dây thừng, que diêm lại bùng lên như có ai đó thổi vào. Một vài du khách bạo gan xin đốt thử, lần nào kết quả cũng tương tự. Các bà các cô yếu bóng vía bắt đầu làm dấu thánh giá còn các ông thì ai cũng muốn thử đốt diêm đưa vào gần bức hình một lần cho tin. Trước khi rời ngôi nhà ra về, người hướng dẫn còn chỉ cho chúng tôi xem lỗ đạn trên thân cây cổ thụ nơi ông chủ đồn điền thiêu chết bà vú sau đó tự sát ở ngoài vườn. Một điều lạ nữa là phần đất dưới gốc cây cổ thụ chỗ bà vú bị trói vào cỏ không tài nào mọc được trong khi xung quanh cỏ vẫn mọc xanh um. Phải chăng oan hồn của bà vú vẫn còn chưa siêu thoát và vẫn tiếp tục ở lại ngôi nhà này để tìm lại món nữ trang đã mất rửa oan cho mình?” (Trích “Bỏ tiền đi xem ma”)
2. “Có một lần có một diễn giả là một người đồng tính nữ đến trường để thuyết trình về việc chống kì thị người đồng tính. Khi cô này đến hội trường để diễn thuyết, cảnh sát đã được phân công đến để ổn định trật tự vì phía bên này là những sinh viên đồng tính mang cờ lục sắc đến ủng hộ cô, còn bên kia là đại diện nhà thờ địa phương và những sinh viên chống đồng tính cũng mang biểu ngữ khẩu hiệu đến để phản đối. Trái với những khẩu hiệu ôn hòa như “We only want equality!” (Chúng tôi chỉ muốn sự bình đẳng), “Homosexuality is not a disease” (Đồng tính không phải là căn bệnh), và “We too need love” (Chúng tôi cũng cần được yêu thương) bên phe cờ lục sắc, bên tôn giáo, phe đại diện cho lòng bác ái và tình yêu thương vô bờ bến, lại có những câu khẩu hiệu đầy sự thù hằn và ác ý kiểu “Jesus hates fags!” (Chúa Giê su ghét bọn pê đê), “Burn in hell, faggots!” (Quỷ tha ma bắt lũ đồng bóng) hay “Jesus did not die on the cross for you!” (Chúa Giê su đã không hi sinh thân mình trên thập giá để cứu rỗi lũ chúng mày!) Cảnh tượng đó khiến tôi mường tượng đến nạn phân biệt chủng tộc của tổ chức KKK, những kẻ tự cho mình là sùng đạo và kính Chúa nhưng lại tra tấn và giết chết những người dân da đen vô tội bằng những hình thức tàn bạo nhất mà con người có thể nghĩ ra. Tất cả đều nhân danh tôn giáo! Mặc cho tất cả những điều bất công tàn nhẫn ấy, những người đồng tính vẫn tiếp tục đấu tranh kiên trì cho quyền lợi chính đáng của cộng đồng của mình.” (Trích “Cong thẳng, thẳng cong”).
3. Trước khi quay xà lan để đưa chúng tôi về với thế giới văn minh, ông già Cajun đổi giọng nghiêm trọng: “Thưa quý vị, chúng ta sắp sửa được tận mắt trông thấy ngôi sao của vùng đầm lầy này, niềm tự hào của xứ sở bayou và là biểu tượng của nước Mỹ, loài đại bàng đầu hói huyền thoại.” Nhìn theo hướng tay ông chỉ, chúng tôi thấy một tổ chim trên đỉnh của một ngọn cây cô độc giữa đầm lầy, bên trong có hai chú chim non. Khi tôi còn bán tín bán nghi không biết có thật đó là đại bàng đầu hói trên quốc huy nước Mỹ không thì có tiếng một du khách reo lên: “Nhìn kìa, chim mẹ đang về tổ.” Con chim nhỏ hơn tưởng tượng của tôi, chỉ bằng kích cỡ một con chim cú thông thường nhưng cái đầu phủ toàn lông trắng thì đúng là không lẫn vào đâu được. Mỏ nó ngậm một con cá. Tôi định rút máy ảnh ra chụp nhưng khoảng cách khá xa không nhìn thấy rõ. Một số du khách khác yêu cầu ông già lái xà lan gần tổ chim một tí nhưng ông lắc đầu từ chối, bảo rằng phải tôn trọng lãnh địa của đại bàng rồi từ từ cho xà lan quay đầu. Mặc dù tiếc là không được đến gần một tí nữa để ngắm cho mãn nhãn loài chim huyền thoại này, tôi vẫn cảm thấy trong lòng dâng lên một niềm vui khó tả khi được tận mắt ngắm đại bàng đầu hói ngay trong môi trường thiên nhiên chứ không phải trong vườn thú. (Trích “Thiên nhiên Louisiana”)
4. “Khác với những con hươu được nuôi nhốt trong vườn thú, bầy hươu hoang bám đầy bùn đất, sừng gạc tơi tả do đánh nhau hoặc vướng gãy. Có con trên người còn mang những vết thương ruồi nhặng bu đầy. Đây là một bầy nhỏ, chưa tới mười con, trong đó có hai con hươu đực có sừng, và hai con hươu non, còn lại là hươu cái. Sue bảo tôi con hươu đực già là con đầu đàn và tối nay chúng tôi sẽ bắn hạ nó. “Để cho con hươu đực trẻ kia có cơ hội làm đầu đàn” Sue nói. Bầy hươu tiến tới vũng nước và bắt đầu gục đầu xuống uống nước. Chúng dường như không nhận ra được sự hiện diện của chúng tôi. Đợi bầy hươu tập trung đầy đủ, Josh ra hiệu cho tôi và vợ ông bật đèn pha trong tay, ông cũng mở đèn đang đeo trên đầu. Lập tức cả bầy hươu quên việc uống nước mà quay đầu về phía ánh đèn. Bị bắt đèn, mắt của loài ăn cỏ có màu đỏ như những đốm nhang đang cháy. Và rất lạ là dường như bị ánh đèn thôi miên, cả bầy quên cả việc uống nước cũng như việc phải chạy thoát hiểm mà chỉ đứng nhìn trân trối vào ánh sáng đang chiếu tới. Bỗng “tạch” một tiếng không quá lớn, cỡ như tiếng nổ của một viên pháo trung bình, con hươu to có cặp gạc lớn nhất bỗng dưng gục xuống, cả bầy còn lại hốt hoảng chạy tán loạn. Josh ra tay nhanh quá, tôi còn chưa kịp nhận ra là ông ta đã nổ súng thì con hươu đã bị dính đạn rồi.” (Trích “Một chuyến đi săn”)
5. Tôi và Ami ngày càng trở nên gần gũi, đó là điều khó tránh khỏi. Trong suốt thời gian ba tháng hè đó, tôi gần như trở thành một người Nhật trong cách sinh hoạt ngoại trừ một việc là tôi không biết nói tiếng Nhật. Ở nhà tôi mặc yukata (tôi có hai chiếc yukata, một chiếc tôi mua ở sân bay Narita, một chiếc Ami mang từ Nhật sang tặng tôi). Gạo, nước tương trong nhà đều là của Nhật. Nhờ Ami mà tôi biết cách làm nhiều món Nhật, trong đó có một món cứu đói đơn giản và công hiệu nhất: lấy một chén cơm nóng đập một cái trứng gà sống lên trên và trộn đều, sau đó rưới nước tương và rắc hành lá băm nhuyễn lên. Thế là xong một món cơm trộn rất ngon và dễ làm. Ami còn chỉ tôi cách nấu cari kiểu Nhật với thịt băm, làm món koroke (khoai tây nghiền nắn thành viên có nhân thịt bên trong rồi chiên giòn), luộc đậu udamame sao cho xanh và ngon. Ami bảo tôi nếu sau này có dịp sang Nhật sẽ cho tôi thưởng thức món sashimi thịt ngựa sống chấm washabi ăn với củ cải daikon bào mỏng. Và cũng qua Ami, tôi học được cách pha trà bằng bột matcha. Mỗi bữa ăn, Ami thường nấu nướng tất cả rồi mời tôi cùng ăn. “Itadakimasu!” là câu cửa miệng của người Nhật khi mời nhau dùng bữa. Ami chỉ cho tôi cách phân biệt giữa kabuki và kịch Noh. Thậm chí Ami còn dạy tôi hát bài dân ca Nhật Kojo no Tsuki (Ánh trăng trên thành cổ), một bài trước đây tôi nghe Scorpions hát nhưng không biết nó là bài gì. Ami không còn gọi tôi bằng tên tiếng Anh Barry mà gọi là Vien-kun, còn tôi gọi Ami là Ami-chan. Tôi kể cho Ami nghe rất nhiều chuyện của tôi và Ami cũng kể cho tôi rất nhiều về bản thân mình. (Trích “Ami, mối tình không bao giờ thành của tôi”)
6. So với Jing và Hao, Ye cổ hủ và thấm nhuần tư tưởng Mao hơn nhiều, đến mức tôi hay gọi hắn là tiểu Hồng Vệ Binh. Ye từng nói với tôi rằng Tây Tạng là xứ lạc hậu và mê tín nếu không có Trung Quốc sáp nhập vào thành khu tự trị thì đến bây giờ chắc cái bóng đèn điện là gì cũng không biết. Hắn cũng cãi với tôi là vụ Thiên An Môn chẳng có ai chết cả, đừng nghe những lời tuyên truyền của phương Tây. Hắn bảo từ quê hắn ở Phúc Kiến nhìn qua bên kia biển bằng mắt thường cũng có thể thấy được đảo Đài Loan. Nếu hắn là đô đốc hải quân Trung Quốc, hắn sẽ ra lệnh nã pháo sang bên kia để tiêu diệt luôn Đài Loan. Nhiều lúc tôi mỉa mai bảo sau này ở Mỹ có ngành Mao học, chắc cậu sẽ làm trưởng khoa chứ không đùa. Hắn nói sẵn sàng còn tự hào khoe rằng hồi còn ở Trung Quốc, hắn từng đoạt giải hùng biện cuộc thi nói về Mao Tuyển. Là người học ngành khoa học, nhưng Ye lại cổ hủ và bảo thủ đến mức khó tin. Hành lý của hắn mang sang từ Trung Quốc là cái nồi áp suất to tướng và vài bộ quần áo. Sang Mỹ, hắn nhất quyết không thay đổi cách ăn uống mà suốt ngày chỉ ăn đúng một món. Gạo, thịt heo, cà rốt, bắp cải, khoai tây, hắn cho tất cả vào nồi áp suất nấu nhừ như cháo rồi ăn, cứ như thế ngày này qua ngày khác mà không biết ngán. Sau khi Lili và Jing đi rồi, tôi cũng ít qua lại với Ye vì nói chuyện không hợp. Đúng là “đạo bất đồng bất tương vi mưu” (Trích “Những người bạn Trung Quốc”)
Chương trình trích đoạn giới thiêu sách tới đây xin được tạm dừng. Các bạn nào muốn biết thêm chi tiết, xin mua sách đọc và ủng hộ ạ!

17 Comments

  1. Giờ bạn Hân có giờ ra nhà sách đâu. Ở nhà ôm con 24/24 luôn mà. Nhà đông con mà neo người nó vậy á. 🙂

  2. thế là ngày mai mình làm thử món cơm cứu đói thử xem! cảm ơn Huynh về bài viêt trích dẫn này

    • Món cơm cứu đói sẽ ngon bội phần nếu được trộn với tiết rùa. Con rùa nào càng đắt tiền, tiết càng ngon.

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*